Một cảnh quan gồm các mảnh rừng xen đất nông nghiệp với 11 loài. Học sinh dùng ngân sách có hạn để khoanh khu bảo tồn, trồng hành lang xanh nối các mảnh rừng, làm dải đệm che bìa rừng, kiểm soát loài săn mồi ngoại lai, hạn chế săn bắt và nhân nuôi loài quý hiếm, rồi chạy vài thập kỉ để theo dõi độ phong phú loài, chỉ số đa dạng Simpson, mức đe doạ của từng loài, quan hệ loài – diện tích và các dịch vụ hệ sinh thái.
Mô phỏng bảo tồn đa dạng sinh học cho bài Sinh thái học phục hồi và bảo tồn (Sinh học 12): mỗi ô là 25 ha rừng, đất nông nghiệp, sông hoặc thị trấn; mỗi loài tăng trưởng logistic trong từng mảnh rừng, quần thể nhỏ dễ tuyệt chủng ngẫu nhiên, cá thể phát tán giữa các mảnh theo khoảng cách. Rừng bị chặt dần, mảnh rừng nhỏ lại và cô lập hơn, phần lõi xa bìa rừng thu hẹp nhanh hơn diện tích – đúng các ý của thuyết địa lí sinh học đảo và hiệu ứng bìa.
Chọn công cụ rồi tô lên bản đồ: khu bảo tồn (không chặt, không săn), hành lang xanh, dải đệm; chọn mức kiểm soát loài ngoại lai, hạn chế săn bắt và một chương trình bảo tồn chuyển chỗ (nhân nuôi, ngân hàng hạt giống). Bấm Chạy để xem số loài S, chỉ số Simpson D = 1 − Σn(n − 1)/(N(N − 1)), số loài bị đe doạ theo tiêu chí Sách Đỏ IUCN, carbon lưu trữ, côn trùng thụ phấn và thảm thực vật ven sông. Nút Dự báo rủi ro chạy 20 lần để ước tính xác suất tuyệt chủng của từng loài; đồ thị loài – diện tích cho biết số mũ z. Mỗi lần chạy hết thời gian được ghi vào bảng để so sánh các phương án.
Câu hỏi gợi ý:
– Vì sao một khu bảo tồn lớn giữ được nhiều loài rừng sâu hơn vài khu nhỏ có cùng tổng diện tích?
– Hành lang xanh giúp loài nào, và có thể gây hại gì?
– Với cùng ngân sách, nên mua thêm đất bảo tồn hay chi cho kiểm soát loài ngoại lai?
Tham số điều chỉnh được
Tốc độ mất rừng (rừng không được bảo vệ) (0–3 %/năm)