Một đàn cá tăng trưởng logistic, bị nhiều chủ tàu cùng khai thác. Học sinh chọn số tàu của mình, cơ chế quản lí (tự do khai thác, hạn ngạch tổng, hợp tác xã cùng quyết định), cỡ mắt lưới, mùa cấm và khu bảo tồn biển, rồi theo dõi trữ lượng cá, sản lượng mỗi năm so với sản lượng bền vững tối đa rK/4 tại N = K/2, lợi nhuận của mình so với cả đội tàu, cá non và sinh vật bị bắt nhầm.
Mô phỏng khai thác thuỷ sản bền vững theo mô hình sản lượng thặng dư Schaefer: đàn cá tăng trưởng logistic dN/dt = rN(1 − N/K) và bị đánh bắt C = qEN, với E là số tàu. Sản lượng bền vững lớn nhất khi đàn cá ở mức K/2, bằng rK/4. Nhiều chủ tàu cùng khai thác một đàn cá chung: mỗi người được lợi khi thêm tàu, nhưng cả đội tàu cùng thêm tàu thì đàn cá suy kiệt – bi kịch của tài nguyên chung.
Kéo số tàu của em, chọn cơ chế: tự do khai thác (các chủ tàu khác thêm tàu khi còn lãi), hạn ngạch tổng (chia đều cho các chủ tàu) hoặc hợp tác xã (mọi người theo quyết định của em). Thử thêm công cụ quản lí: mắt lưới to cho cá non thoát, mùa cấm, khu bảo tồn biển, đổi chi phí mỗi tàu như khi có trợ giá. Đồ thị trên vẽ trữ lượng và sản lượng theo năm, đồ thị dưới là đường cong tăng trưởng với đỉnh MSY và đường đánh bắt hiện tại; bảng ghi kết quả từng lần chạy 60 năm.
Câu hỏi gợi ý:
– Vì sao khi tự do khai thác, em giảm tàu của mình mà đàn cá vẫn suy giảm?
– Hạn ngạch đặt đúng bằng MSY có an toàn không, nhất là khi lưới bắt nhiều cá non?
– Mức số tàu nào cho lợi nhuận cả đội cao nhất, và nó lớn hay nhỏ hơn mức cho MSY?
Tham số điều chỉnh được
Tốc độ tăng trưởng riêng của đàn cá r (0,1–1 /năm)
Khu bảo tồn biển (cấm đánh bắt) (0–50 % vùng biển)