Màn hình Thử chất: nhỏ từng giọt dung dịch KMnO₄ trong acid (tím → mất màu) hoặc K₂Cr₂O₇ trong acid (da cam → xanh lục) để nhận ra chất khử, dung dịch KI (không màu → vàng nâu, với hồ tinh bột → xanh đen) để nhận ra chất oxi hoá; có ống đối chứng, chế độ chất chưa biết và bảng kết quả. Màn hình Vanadium: kẽm trong acid khử VO₂⁺ (vàng, +5) qua VO²⁺ (xanh lam, +4), V³⁺ (xanh lục, +3) tới V²⁺ (tím, +2); thế điện cực chuẩn cho biết thiếc hay Fe²⁺ khử được tới đâu. Màn hình Chuẩn độ: chuẩn độ Fe²⁺ bằng KMnO₄ hoặc K₂Cr₂O₇, ghi các lần chuẩn độ và tính nồng độ.
Làm sao biết một chất là chất oxi hoá hay chất khử? Trong phòng thí nghiệm, người ta dựa vào sự đổi màu: dung dịch KMnO₄ trong acid màu tím mất màu khi gặp chất khử, dung dịch KI không màu chuyển vàng nâu khi gặp chất oxi hoá. Mô phỏng gắn với chủ đề Phản ứng oxi hoá – khử (Hoá học 10): số oxi hoá, chất oxi hoá, chất khử, quá trình oxi hoá và quá trình khử.
Ở màn hình Thử chất, học sinh chọn thuốc thử (KMnO₄ hoặc K₂Cr₂O₇ trong acid, KI, KI với hồ tinh bột) và một trong mười một chất (FeSO₄, Na₂SO₃, H₂O₂, FeCl₃, nước chlorine, nước bromine, CuSO₄…), nhỏ từng giọt, so với ống đối chứng, đọc phương trình ion, hai quá trình oxi hoá và khử, sự thay đổi số oxi hoá và ghi bảng kết quả; có chế độ chất chưa biết. Màn hình Vanadium cho thấy kẽm khử vanadium từ +5 (vàng) qua +4 (xanh lam), +3 (xanh lục) tới +2 (tím) và dùng thế điện cực chuẩn giải thích vì sao thiếc chỉ khử tới +3. Màn hình Chuẩn độ cho chuẩn độ Fe²⁺ bằng KMnO₄ hoặc K₂Cr₂O₇, đọc burette, ghi các lần chuẩn độ khớp nhau và tính nồng độ.
Câu hỏi gợi ý:
– Vì sao H₂O₂ làm mất màu KMnO₄ nhưng lại làm KI chuyển nâu?
– Vì sao màu tím của KMnO₄ không mất nữa sau một số giọt nhất định?
– Vì sao thiếc chỉ khử vanadium(V) tới vanadium(III) còn kẽm khử được tới vanadium(II)?