Nồng độ dung dịch — rắc, nhỏ giọt, bay hơi
Kéo lọ rắc chất rắn hoặc ống nhỏ giọt dung dịch đặc vào cốc nước, giữ vòi để thêm nước hoặc xả bớt, kéo thanh bay hơi để cô đặc dần. Đầu dò nồng độ kéo thả vào dung dịch đọc trực tiếp số mol/lít; vượt quá độ tan của chất thì phần dư đọng lại đáy cốc dạng rắn, không tan thêm được nữa. Tám chất quen thuộc trong chương trình (đường, muối ăn, đồng(II) sulfate, kali pemanganat, kali dicromat, kali cromat, coban(II) chloride, niken(II) chloride) mỗi chất một màu và một giới hạn hoà tan riêng. Phỏng theo mô phỏng "Concentration" của PhET Interactive Simulations, University of Colorado Boulder (CC BY 4.0); đã viết lại.
Bài Dung dịch và nồng độ thuộc chủ đề Phản ứng hoá học của Khoa học tự nhiên 8 gắn công thức nồng độ mol C = n/V với thao tác pha chế trực quan: rắc chất rắn, nhỏ dung dịch đặc, thêm nước, xả bớt, cho bay hơi — tất cả diễn ra theo thời gian thực trong một cốc dung dịch duy nhất.
Học sinh kéo lọ rắc (hoặc chuyển sang ống nhỏ giọt) vào miệng cốc và giữ để chất tan rơi/nhỏ vào nước; giữ nút vòi để thêm nước làm nhạt màu dung dịch, hoặc xả đáy để bớt thể tích mà nồng độ không đổi. Kéo thanh trượt bay hơi để nước bốc hơi dần trong khi lượng chất tan giữ nguyên, thấy dung dịch đậm màu lên tới khi bão hoà — lúc đó phần chất dư đọng lại thành gò rắn ở đáy cốc, kéo đầu dò nồng độ vào bất cứ đâu trong dung dịch cũng chỉ đọc được một giá trị vì đã hoà tan đều. Đổi sang chất khác (đường, muối ăn, các muối kim loại chuyển tiếp có màu) để thấy mỗi chất có một giới hạn hoà tan và màu sắc khác nhau ở cùng điều kiện.
Câu hỏi gợi ý:
– Thêm nước vào một dung dịch, số mol chất tan có đổi không? Vì sao nồng độ vẫn giảm?
– Vì sao xả bớt dung dịch trong cốc không làm đổi nồng độ mol?
– Cho bay hơi liên tục một dung dịch chưa bão hoà, cuối cùng điều gì xảy ra khi nước gần cạn?
Tham số điều chỉnh được
- Cách thêm chất tan
- Chất tan
- Hiện công thức C = n/V