Nội lực và ngoại lực – uốn nếp, đứt gãy, bào mòn và bồi tụ
0
Chạy mô phỏng
Cần đăng nhập để mở; tài khoản miễn phí.
Luôn dùng bản mới nhất; khi bạn sửa lần đầu mới tạo bản riêng, bản gốc không đổi.

Nội lực và ngoại lực – uốn nếp, đứt gãy, bào mòn và bồi tụ

Lát cắt vỏ Trái Đất với các lớp đá nằm ngang. Chọn nén ép (hai mảng xô vào nhau làm đá uốn nếp thành nếp lồi, nếp lõm) hoặc tách giãn (đá bị đứt gãy, tạo địa luỹ và địa hào) rồi bấm Chạy: nội lực nâng địa hình lên theo tốc độ mm/năm, đồng thời ngoại lực phong hoá – xâm thực bào mòn đỉnh núi và bồi tụ vật liệu xuống chỗ trũng thành đồng bằng. Kéo chuột trên lát cắt để tự nâng hoặc hạ một đoạn vỏ; bảng số liệu hiện thời gian, độ cao đỉnh, bề dày lớp bị bào mòn và lớp bồi tụ.

Ở chủ đề Thạch quyển (Địa lí 10), bài Nội lực và ngoại lực yêu cầu phân tích tác động đồng thời của hai lực đối nghịch lên địa hình bề mặt Trái Đất. Học sinh chọn vận động nén ép (uốn nếp) hoặc tách giãn (đứt gãy), hay cho nội lực ngừng; đặt tốc độ nâng 0–10 mm/năm, cường độ bào mòn của ngoại lực và thời gian mô phỏng tới 30 triệu năm. Khi chạy, lớp đá trầm tích uốn thành nếp lồi, nếp lõm hoặc đứt thành địa luỹ, địa hào, trong khi đỉnh bị bào mòn và vật liệu bồi tụ xuống chỗ trũng. Bảng số liệu ghi độ cao đỉnh, bề dày lớp bị bào mòn và lớp bồi tụ. Học sinh kết luận: nội lực làm địa hình gồ ghề, ngoại lực có xu hướng san bằng, địa hình hiện tại là kết quả của cả hai. Câu hỏi gợi ý: – Nếu ngoại lực mạnh hơn nội lực, độ cao đỉnh núi thay đổi thế nào? – Phân biệt địa luỹ và địa hào. – Vật liệu bị bào mòn trên núi đi đâu?

Tham số điều chỉnh được

  • Tốc độ mô phỏng (0,2–5 triệu năm/giây)
  • Vận động do nội lực
  • Thời gian mô phỏng (2–30 triệu năm)
  • Hiện các lớp đá trầm tích
  • Tốc độ nâng do nội lực (0–10 mm/năm)
  • Cường độ ngoại lực (bào mòn) (0–10 mức)