Tự chia độ một nhiệt kế chất lỏng chưa có vạch bằng hai điểm mốc (nước đá đang tan 0 °C, nước sôi 100 °C ở 1 atm) rồi dùng nó đo cốc nước X. So sánh nhiệt kế y tế (35–42 °C, chỗ thắt giữ số chỉ), nhiệt kế phòng thí nghiệm và nhiệt kế điện tử khi đo nước lạnh, nước nóng và thân nhiệt. Màn thứ ba đặt bốn thang Celsius, Fahrenheit, Kelvin, Réaumur cạnh nhau để đổi nhiệt độ.
Nội dung phục vụ chủ đề "Đo nhiệt độ" – Khoa học tự nhiên 6: nhiệt kế chất lỏng hoạt động nhờ sự nở vì nhiệt của chất lỏng trong bầu, thang Celsius được xác định bằng hai điểm mốc là nhiệt độ nước đá đang tan (0 °C) và nhiệt độ nước sôi ở áp suất 1 atm (100 °C). Học sinh tự chia độ một nhiệt kế chưa có vạch, so sánh nhiệt kế y tế, nhiệt kế phòng thí nghiệm và nhiệt kế điện tử, rồi đổi nhiệt độ giữa các thang Celsius, Fahrenheit, Kelvin và Réaumur.
Màn Chia độ: nhúng bầu nhiệt kế vào nước đá đang tan, chờ cột chất lỏng đứng yên rồi đánh dấu 0 °C, làm tương tự với nước đang sôi để đánh dấu 100 °C; kính lúp và thước mm giúp đọc chiều dài cột, thang em vừa chia dùng để đo cốc nước X. Màn So sánh: nhúng từng nhiệt kế vào nước lạnh, nước ấm, nước nóng hoặc đo thân nhiệt người bệnh, quan sát giới hạn đo, độ chia nhỏ nhất, thời gian chờ và chỗ thắt của nhiệt kế y tế. Màn Thang nhiệt độ đặt bốn nhiệt kế cạnh nhau, kéo cột chất lỏng để thấy t(°F) = 1,8·t(°C) + 32 và T(K) = t(°C) + 273,15. Ba nhiệm vụ tự kiểm tra: nhiệt độ nước X, thân nhiệt người bệnh, đổi nhiệt độ.
Câu hỏi gợi ý:
– Vì sao phải chờ cột chất lỏng đứng yên rồi mới đánh dấu điểm mốc?
– Vì sao nhiệt kế y tế vẫn chỉ thân nhiệt người bệnh sau khi lấy ra khỏi miệng?
– Ở nhiệt độ nào thang Celsius và thang Fahrenheit chỉ cùng một số?