Ba ống hô hấp kế trong bể nước ổn nhiệt: hạt nảy mầm, hạt khô thêm bi thuỷ tinh, và chỉ có bi thuỷ tinh (khí áp kế), mỗi ống có KOH hấp thụ CO₂. Đổi loại hạt (đậu Hà Lan, ngô), số hạt, nhiệt độ bể 10–35 °C và thời gian đo; đồng hồ tua nhanh, vị trí giọt màu trên ống mao dẫn được ghi mỗi 5 phút, hiệu chỉnh theo ống bi thuỷ tinh, vẽ đồ thị thể tích O₂ hấp thụ theo thời gian, tính tốc độ bằng hệ số góc và Q₁₀ giữa hai nhiệt độ. Thử bỏ KOH hoặc bỏ bước cân bằng nhiệt để thấy vì sao cần chúng.
Mô phỏng phục vụ bài Hô hấp ở thực vật (Sinh học 11) và nội dung hô hấp tế bào của Sinh học 10: thí nghiệm hô hấp kế đo lượng oxygen hạt nảy mầm hấp thụ. Ba ống nghiệm cùng thể tích đặt trong bể nước ổn nhiệt, đáy có dung dịch KOH hấp thụ CO₂: ống hạt nảy mầm, ống hạt khô thêm bi thuỷ tinh và ống chỉ có bi thuỷ tinh làm khí áp kế. Hạt lấy O₂ nên thể tích khí trong ống kín giảm, giọt chất lỏng màu trong ống mao dẫn chia vạch dịch về phía ống nghiệm; phương trình hô hấp hiếu khí C₆H₁₂O₆ + 6O₂ → 6CO₂ + 6H₂O kèm năng lượng ATP.
Học sinh chọn loại hạt (đậu Hà Lan hoặc ngô), số hạt, nhiệt độ bể từ 10 đến 35 °C và thời gian đo rồi bấm Bắt đầu. Đồng hồ tua nhanh; mỗi 5 phút số đọc của ba ống được ghi vào bảng, trừ đi độ trôi của ống bi thuỷ tinh để được thể tích O₂ thực sự hạt hấp thụ, vẽ đồ thị theo thời gian và tính tốc độ bằng hệ số góc (mL/phút, µL/g/phút). Các lần chạy được lưu để so sánh: chạy ở hai nhiệt độ cách nhau 10 °C cho Q₁₀ khoảng 2; bỏ KOH thì giọt màu gần như đứng yên vì thương số hô hấp RQ ≈ 1; bỏ bước cân bằng nhiệt thì giọt màu bị đẩy ra ngoài hoặc bị hút vào ống. Bấm vào một ống để phóng to thang chia 0,01 mL và tự đọc số.
Câu hỏi gợi ý:
– Vì sao phải đặt KOH trong mỗi ống, và vì sao bỏ KOH thì giọt màu gần như không dịch chuyển dù hạt vẫn hô hấp?
– Ống chỉ có bi thuỷ tinh dùng để làm gì, và vì sao ba ống phải có cùng thể tích?
– Tốc độ hấp thụ O₂ ở 15 °C và 25 °C khác nhau bao nhiêu lần? Giải thích bằng hoạt động của enzyme.