Sơ đồ tim bốn ngăn co bóp chậm theo từng chu kì: nút xoang nhĩ phát xung, sóng lan qua tâm nhĩ, dừng lại ở nút nhĩ thất rồi theo bó His và mạng Purkinje tới tâm thất. Đồ thị áp suất – thời gian của tâm nhĩ trái, tâm thất trái và động mạch chủ cho thấy van nhĩ thất và van bán nguyệt mở, đóng đúng lúc chênh lệch áp suất đổi chiều; bên dưới là thể tích tâm thất và điện tâm đồ (P, QRS, T). Thay đổi CO₂ trong máu (thụ thể hoá học), sức cản tiểu động mạch và thể tích máu (thụ thể áp lực) để thấy hành não điều chỉnh nhịp tim qua dây giao cảm và dây phó giao cảm, rồi đọc thể tích tâm thu và lưu lượng tim = thể tích tâm thu × nhịp tim.
Phục vụ chủ đề Hô hấp và tuần hoàn ở động vật (Sinh học 11): cấu tạo và hoạt động của tim, tính tự động của tim, chu kì tim và điều hoà hoạt động tim mạch. Mô hình tim trái gồm tâm nhĩ và tâm thất có độ đàn hồi thay đổi khi cơ co, các van một chiều và động mạch chủ đàn hồi; hệ dẫn truyền gồm nút xoang nhĩ, nút nhĩ thất, bó His và mạng Purkinje; hành não nhận tín hiệu từ thụ thể hoá học và thụ thể áp lực rồi điều chỉnh nhịp tim qua dây giao cảm và dây phó giao cảm (dây X).
Xem từng chu kì ở tốc độ chậm, bấm Tạm dừng hoặc Bước 0,02 s để đối chiếu các thời điểm van đóng, mở (đánh số 1–4) với chỗ các đường áp suất cắt nhau và với điện tâm đồ P, QRS, T. Kéo CO₂ trong máu, sức cản tiểu động mạch, thể tích máu hoặc bấm Vận động, Mất máu để ghi nhịp tim, thể tích tâm thu, lưu lượng tim và huyết áp vào bảng; tích Cắt dây thần kinh đến tim để thấy nhịp tự động của nút xoang nhĩ. Có thể đổi đơn vị áp suất giữa kPa và mmHg.
Câu hỏi gợi ý:
– Vì sao van nhĩ thất đóng ngay đầu pha co tâm thất, trước khi máu được tống đi?
– Vì sao xung bị chậm lại ở nút nhĩ thất và điều đó thể hiện ở đâu trên điện tâm đồ?
– Khi mất máu, nhịp tim, thể tích tâm thu và lưu lượng tim thay đổi thế nào, vì sao?
Tham số điều chỉnh được
CO₂ trong máu (thụ thể hoá học) (4–8 kPa)
Đơn vị áp suất
Tốc độ phát (0,1–1 × thời gian thực)
Sức cản tiểu động mạch (thụ thể áp lực) (50–200 %)