Cơ hoành và cơ liên sườn làm thay đổi thể tích lồng ngực, áp suất trong phổi giảm hoặc tăng (định luật Boyle) nên không khí đi vào hoặc đi ra; so sánh với mô hình bình chuông. Phế dung kế ghi đồ thị thể tích phổi: khí lưu thông, dung tích sống, FEV₁/FVC, thông khí phổi = khí lưu thông × nhịp thở. Đổi bệnh phổi (hen, khí phế thũng, xơ phổi), hút thuốc và vận động để thấy ảnh hưởng tới trao đổi khí ở phế nang; thực hành nước vôi trong với khí hít vào và khí thở ra.
Bài Hô hấp ở động vật (Sinh học 11) và Hệ hô hấp ở người cần giải thích vì sao không khí đi vào và ra khỏi phổi. Mô phỏng vẽ lồng ngực với cơ hoành, cơ liên sườn ngoài, cơ liên sườn trong và cơ thành bụng, cùng mô hình bình chuông: khi lồng ngực nở ra, áp suất trong phổi giảm xuống dưới áp suất khí quyển theo định luật Boyle nên không khí đi vào. Phế dung kế ghi đồ thị thể tích phổi, còn màn hình trao đổi khí cho thấy O₂ và CO₂ khuếch tán qua thành phế nang theo định luật Fick.
Ở màn hình Cơ chế thở, xem đồ thị thể tích phổi và áp suất phế nang theo thời gian, hoặc tắt tự thở rồi kéo hình để tự điều khiển các cơ. Ở Phế dung kế, đo khí lưu thông, nhịp thở, khí bổ sung, khí dự trữ, dung tích sống, FEV₁, FVC và lưu lượng đỉnh, rồi ghi vào bảng kết quả. Đổi phổi khoẻ mạnh sang hen, khí phế thũng hoặc xơ phổi, bật hút thuốc lá, chọn vận động vừa hoặc mạnh để so sánh thông khí phổi (khí lưu thông × nhịp thở) và độ bão hoà O₂ của máu. Màn hình Thực hành cho khí hít vào và khí thở ra sục qua hai ống nước vôi trong, đo thời gian mỗi ống hoá đục.
Câu hỏi gợi ý:
– Vì sao khi cơ hoành co, không khí lại đi vào phổi?
– Vì sao FEV₁/FVC của người bị hen thấp hơn người khoẻ mạnh?
– Ống nước vôi trong nào hoá đục nhanh hơn, điều đó cho biết gì về khí thở ra?