Ba màn về nhiễm sắc thể giới tính: bảng Punnett XX × XY và mô phỏng nhiều gia đình; phép lai gene trên X với bệnh máu khó đông, mù màu đỏ – lục (kèm một tính trạng trên nhiễm sắc thể thường để so sánh) cho thấy con gái mang gene và con trai bị bệnh; dựng phả hệ để thử giả thuyết di truyền trên nhiễm sắc thể thường hay trên X và tìm người chắc chắn mang gene. Số con mô phỏng được so với tỉ lệ lí thuyết.
Mô phỏng cho bài Di truyền liên kết giới tính, chủ đề Di truyền nhiễm sắc thể, Sinh học 12 (Chương trình GDPT 2018): cơ chế xác định giới tính XX – XY và sự di truyền của gene nằm trên nhiễm sắc thể X.
Màn Xác định giới tính dựng bảng Punnett mẹ XX × bố XY và mô phỏng nhiều gia đình: tỉ lệ con gái, con trai tiến tới 1 : 1, biểu đồ số gia đình theo số con gái so với phân phối nhị thức. Màn Phép lai gene trên X cho chọn bệnh máu khó đông, mù màu đỏ – lục hoặc bệnh xơ nang (gene trên nhiễm sắc thể thường để so sánh) và kiểu gene của bố mẹ; bảng Punnett ghi kiểu gene như XᴴXʰ, XʰY, tô màu con gái mang gene và con trai bị bệnh, tính xác suất con trai bị bệnh, con gái mang gene, rồi sinh 1, 10, 100 con để so số liệu mô phỏng với tỉ lệ lí thuyết. Màn Phả hệ có ba phả hệ mẫu và công cụ thêm vợ/chồng, thêm con, đổi giới tính, đánh dấu người bệnh; chương trình thử bốn giả thuyết (gene lặn, gene trội trên nhiễm sắc thể thường hoặc trên X), nêu gia đình mâu thuẫn khi loại giả thuyết, ghi kiểu gene có thể và đánh dấu người chắc chắn mang gene. Mô hình: di truyền Mendel, gene biểu hiện đầy đủ, không có đột biến mới, tỉ lệ giới tính 1 : 1, phả hệ không có hôn nhân cận huyết.
Câu hỏi gợi ý:
– Mẹ mang gene bệnh máu khó đông, bố bình thường: xác suất con trai bị bệnh là bao nhiêu, và vì sao con gái khác?
– Vì sao bệnh do gene lặn trên X gặp ở nam nhiều hơn ở nữ?
– Gia đình nào trong phả hệ loại được giả thuyết gene lặn trên X nhưng không loại được gene lặn trên nhiễm sắc thể thường?
Tham số điều chỉnh được
Tính trạng
Kiểu gene của bố
Kiểu gene của mẹ
Phả hệ mẫu
Màn hình mở đầu
Số con mỗi gia đình (màn Xác định giới tính) (1–8 con)