Đặt một vật dẫn (khối tròn, hình quả lê có mũi nhọn, thanh chữ nhật hoặc hộp rỗng) vào điện trường đều rồi cho electron tự do dịch chuyển: chúng dồn về một phía cho tới khi điện trường bên trong bằng 0, đường sức vuông góc với mặt vật dẫn và mật độ điện mặt σ lớn nhất ở mũi nhọn; hộp rỗng che chắn điện trường cho khoang bên trong. Màn Hai quả cầu nối hai quả cầu tích điện có bán kính khác nhau bằng dây dẫn: điện tích chuyển qua dây cho tới khi hai điện thế bằng nhau, q₁/r₁ = q₂/r₂. Màn Điện môi cho thấy tấm điện môi bị phân cực, điện tích liên kết trên hai mặt làm điện trường bên trong giảm ε lần.
Mở rộng chủ đề Điện trường của Vật lí 11 (Chương trình GDPT 2018) và là nội dung vật dẫn cân bằng tĩnh điện trong các chương trình quốc tế: khi electron tự do trong kim loại ngừng chuyển động, điện trường bên trong vật dẫn bằng 0, điện tích chỉ nằm ở mặt ngoài, cả vật dẫn là một khối đẳng thế và đường sức điện vuông góc với mặt vật dẫn. Mật độ điện mặt σ lớn nhất ở chỗ mặt cong nhiều (mũi nhọn), vì thế cột thu lôi có đầu nhọn; vật dẫn rỗng kín che chắn điện trường cho khoang bên trong (lồng Faraday).
Màn Vật dẫn trong điện trường: chọn khối tròn, hình quả lê có mũi nhọn, thanh chữ nhật hoặc hộp rỗng, đặt điện trường ngoài E₀ và điện tích của vật dẫn, bấm Cho điện tích dịch chuyển để thấy electron dồn về một phía và điện trường trong kim loại giảm về 0; kéo đầu đo để đọc E và điện thế V, bật đường đẳng thế, đọc đồ thị σ quanh mặt vật dẫn và ghi số đo vào bảng. Màn Hai quả cầu nối dây: chọn bán kính và điện tích ban đầu của hai quả cầu, bấm Nối dây để thấy electron chạy qua dây cho tới khi hai điện thế bằng nhau (q₁/r₁ = q₂/r₂), quả cầu nhỏ có mật độ điện mặt lớn hơn và một phần năng lượng toả ra trong dây. Màn Tấm điện môi: tấm điện môi bị phân cực, điện tích liên kết trên hai mặt làm điện trường bên trong giảm ε lần; thay bằng tấm kim loại thì điện trường bên trong bằng 0. Có ba nhiệm vụ tự kiểm tra.
Câu hỏi gợi ý:
– Vì sao điện trường bên trong kim loại bằng 0 khi điện tích đã đứng yên?
– Vì sao đầu cột thu lôi được làm nhọn?
– Sau khi nối hai quả cầu, quả cầu nào có mật độ điện mặt lớn hơn, vì sao?
Tham số điều chỉnh được
Điện trường ngoài E₀ (0–5000 V/m)
Hằng số điện môi ε (1–10)
Điện tích ban đầu q₁ (-20–20 nC)
Điện tích ban đầu q₂ (-20–20 nC)
Bán kính quả cầu 1 r₁ (1–10 cm)
Bán kính quả cầu 2 r₂ (1–10 cm)
Điện tích của vật dẫn trên mỗi mét chiều dài λ (-30–30 nC/m)