Thí nghiệm ảo: đốt sodium, magnesium, aluminium, silicon, phosphorus và sulfur trong oxygen, cho từng oxide vào nước có chất chỉ thị vạn năng rồi thử với dung dịch HCl và NaOH. Bảng kết quả, phương trình hoá học và biểu đồ xu hướng cho thấy Na₂O, MgO là oxide base, Al₂O₃ (và ZnO để so sánh) là oxide lưỡng tính, SiO₂, P₂O₅, SO₂ là oxide acid, gắn với sự chuyển từ mạng tinh thể ion sang mạng tinh thể nguyên tử rồi phân tử.
Phục vụ bài Xu hướng biến đổi thành phần và một số tính chất của hợp chất trong một chu kì (chủ đề Bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học và định luật tuần hoàn, Hoá học 10, Chương trình GDPT 2018). Thí nghiệm ảo đốt sodium, magnesium, aluminium, silicon, phosphorus và sulfur trong oxygen tạo Na₂O, MgO, Al₂O₃, SiO₂, P₂O₅, SO₂ rồi xét tính acid – base của từng oxide: Na₂O và MgO là oxide base, Al₂O₃ lưỡng tính (ZnO được thêm vào để so sánh), SiO₂, P₂O₅ và SO₂ là oxide acid. Từ trái sang phải chu kì, tính base của oxide giảm và tính acid tăng, song song với sự chuyển từ mạng tinh thể ion sang mạng tinh thể nguyên tử rồi phân tử.
Chọn nguyên tố rồi bấm lần lượt Đốt trong oxygen (quan sát màu ngọn lửa và sản phẩm), Cho vào nước + chỉ thị (đọc pH trên thang màu chỉ thị vạn năng: Na₂O ≈ 14, MgO ≈ 9, Al₂O₃ và SiO₂ không tan nên ≈ 7, P₂O₅ ≈ 1–2, SO₂ ≈ 2–3), Thử với HCl và Thử với NaOH (chất rắn tan, nhiệt kế cho biết hỗn hợp nóng lên khi có phản ứng). Bảng kết quả tự điền kèm phương trình hoá học; màn hình Xu hướng chu kì 3 vẽ nhiệt độ nóng chảy của các oxide theo kiểu cấu trúc cùng pH và tính chất em đã xác định.
Câu hỏi gợi ý:
– Vì sao chất chỉ thị vạn năng vẫn xanh lục với Al₂O₃ dù đây là oxide lưỡng tính?
– pH của dung dịch thu được thay đổi thế nào từ Na₂O đến SO₂?
– Vì sao SiO₂ có nhiệt độ nóng chảy cao hơn nhiều so với P₂O₅?