Ba màn về cách tế bào nhân thực và hệ gene trở nên phức tạp. Nội cộng sinh: theo dòng thời gian, một tế bào chủ họ hàng với vi khuẩn cổ nuốt vi khuẩn α-proteobacteria hiếu khí (thành ti thể), rồi một tế bào nhân thực nuốt vi khuẩn lam (thành lục lạp); xem gene chuyển vào nhân và năm thẻ bằng chứng: màng kép, DNA vòng, ribosome 70S, phân đôi, trình tự rRNA. Họ gene: nhân đôi gene rồi để các bản sao tích luỹ đột biến, đọc ma trận tỉ lệ giống nhau, dựng cây gene họ globin hoặc tự dựng, giải họ gene bí ẩn. Chuyển gene ngang: tiếp hợp, biến nạp, tải nạp giữa các loài vi khuẩn và sự lan truyền gene kháng kháng sinh.
Ti thể và lục lạp từng là vi khuẩn sống tự do. Thuyết nội cộng sinh giải thích tế bào nhân thực ra đời khi một tế bào chủ họ hàng với vi khuẩn cổ nuốt vi khuẩn α-proteobacteria hiếu khí (thành ti thể, khoảng 2 tỉ năm trước), rồi một tế bào nhân thực nuốt vi khuẩn lam (thành lục lạp). Hệ gene còn phức tạp dần nhờ nhân đôi gene tạo thành họ gene, và vi khuẩn trao đổi gene với nhau bằng chuyển gene ngang.
Màn Nội cộng sinh chạy theo dòng thời gian 6 bước, có đồ thị số gene còn lại trong hệ gene ti thể và lục lạp cùng năm thẻ bằng chứng: màng kép, DNA vòng, ribosome 70S, phân đôi, trình tự rRNA. Màn Họ gene mô phỏng nhân đôi gene và đột biến theo đồng hồ phân tử: xem họ globin của người, tự nhân đôi gene, hoặc giải họ gene bí ẩn từ ma trận tỉ lệ giống nhau. Màn Chuyển gene ngang cho thử tiếp hợp, biến nạp, tải nạp, thêm kháng sinh và đóng vai thám tử tìm loài đã nhận gene. Có ba câu hỏi tự kiểm tra.
Câu hỏi gợi ý:
– Vì sao màng ngoài của ti thể được cho là có nguồn gốc từ tế bào chủ?
– Hai bản sao gene giống nhau 93 % và hai bản khác giống nhau 43 %: cặp nào nhân đôi gần đây hơn?
– Gene kháng kháng sinh có thể truyền từ loài vi khuẩn này sang loài không họ hàng bằng cách nào?