Khúc xạ ánh sáng, phản xạ toàn phần và thấu kính
1
Chạy mô phỏng
Cần đăng nhập để mở; tài khoản miễn phí.
Luôn dùng bản mới nhất; khi bạn sửa lần đầu mới tạo bản riêng, bản gốc không đổi.

Khúc xạ ánh sáng, phản xạ toàn phần và thấu kính

Nửa trên: tia sáng đi từ môi trường n₁ sang n₂, kéo nguồn sáng để đổi góc tới, thấy góc khúc xạ theo định luật Snell n₁·sin i = n₂·sin r và hiện tượng phản xạ toàn phần khi vượt góc tới hạn. Nửa dưới: vật sáng đặt trước thấu kính hội tụ hoặc phân kì, kéo vật để đổi khoảng cách d, ba tia đặc biệt dựng ảnh và công thức 1/f = 1/d + 1/d′ cho vị trí, tính chất, độ phóng đại của ảnh.

Ba bài Khúc xạ ánh sáng, Phản xạ toàn phần và Thấu kính của chủ đề "Ánh sáng" (Khoa học tự nhiên 9) được gom trong một màn hình hai tầng. Học sinh vận dụng định luật khúc xạ n₁·sin i = n₂·sin r và công thức thấu kính 1/f = 1/d + 1/d′. Ở tầng trên, chỉnh chiết suất n₁, n₂ (1–2,5) và góc tới i: khi đi từ môi trường chiết suất lớn sang nhỏ và i vượt góc tới hạn, tia khúc xạ biến mất – phản xạ toàn phần. Ở tầng dưới, chọn thấu kính hội tụ hoặc phân kì, tiêu cự 5–30 cm và khoảng cách vật d: ba tia đặc biệt dựng ảnh. Kéo vật qua tiêu điểm của thấu kính hội tụ để thấy ảnh chuyển từ thật, ngược chiều sang ảo, cùng chiều. Câu hỏi gợi ý: – Vì sao phản xạ toàn phần không xảy ra khi ánh sáng đi từ không khí vào nước? – Đặt vật ở d = 2f trước thấu kính hội tụ, ảnh có đặc điểm gì? – Thấu kính phân kì có bao giờ cho ảnh thật không?

Tham số điều chỉnh được

  • Khoảng cách vật – thấu kính d (3–60 cm)
  • Tiêu cự f (5–30 cm)
  • Chiết suất môi trường tới n₁ (1–2,5)
  • Chiết suất môi trường khúc xạ n₂ (1–2,5)
  • Góc tới i (0–89 °)
  • Loại thấu kính