Thí nghiệm bắt thước rơi để đo thời gian phản xạ. Tự đo: thước được thả vào lúc ngẫu nhiên, em bắt bằng một cú chạm hoặc phím bấm khi thấy thước rơi hoặc khi nghe tiếng “tách”; đọc quãng rơi d trên thước rồi đổi sang t = √(2d/g) từng bước, bấm sớm không được tính. Số liệu cả lớp (mô phỏng): so sánh nhìn và nghe, tay thuận và tay không thuận, tập trung và bị phân tâm, có và không có caffeine; bảng từng lần đo, trung bình, khoảng, đánh dấu kết quả bất thường, biểu đồ trung bình, phân bố và theo lần thử.
Mô phỏng phục vụ bài Cảm ứng ở động vật (Sinh học 11) và bài thực hành đo thời gian phản xạ: một bạn thả thước, bạn kia bắt thước giữa ngón cái và ngón trỏ, thước rơi được càng xa thì phản xạ càng chậm. Thước rơi tự do từ trạng thái đứng yên nên d = ½gt², suy ra t = √(2d/g). Tín hiệu đi từ mắt hoặc tai theo neuron cảm giác về não rồi theo neuron vận động tới cơ ngón tay; đây là phản ứng có ý thức nên chậm hơn nhiều so với phản xạ không điều kiện.
Ở chế độ tự đo, thước được thả vào một thời điểm ngẫu nhiên; học sinh bắt bằng cú chạm, nhấp chuột hoặc phím bấm, thời gian lấy từ đồng hồ chính xác của trình duyệt, lần bấm trước khi thước rơi bị loại. Đổi tín hiệu nhìn hoặc nghe tiếng “tách”, tay thuận hoặc tay không thuận để so sánh; bảng ghi từng lần đo, trung bình, khoảng và đánh dấu kết quả bất thường, ô đổi d sang t trình bày từng bước. Ở chế độ số liệu cả lớp, mô phỏng sinh một lớp ảo để so sánh nhìn và nghe, hai tay, tập trung và bị phân tâm, có và không có caffeine (chỉ là số liệu mô phỏng); biểu đồ trung bình, phân bố và theo lần thử cho thấy hiệu ứng nhỏ so với độ dao động nên phải đo lặp lại. Thời gian đo trên máy gồm cả độ trễ của màn hình và cảm ứng nên thường dài hơn khi bắt thước thật.
Câu hỏi gợi ý:
– Vì sao thời điểm thả thước phải ngẫu nhiên, và vì sao lần bấm trước khi thước rơi bị loại?
– Thời gian phản xạ dài gấp đôi thì quãng rơi d thay đổi thế nào? Vì sao?
– Vì sao phải đo nhiều lần và nhiều người mới kết luận được caffeine hay sự phân tâm có ảnh hưởng?