Làm lại thí nghiệm điều chế muối tan theo từng bước: đun ấm acid loãng (H₂SO₄ hoặc HCl), thêm từng thìa base không tan (CuO, CuCO₃ sủi bọt CO₂, ZnO) đến dư, lọc bỏ base dư, cô nước lọc đến điểm kết tinh (thử bằng đũa thuỷ tinh lạnh), để nguội chậm hoặc làm lạnh nhanh, làm khô rồi cân tinh thể. Đồ thị độ tan cho thấy vì sao muối tách ra khi nguội; bảng tính khối lượng lí thuyết theo số mol acid, hiệu suất và các phần hao hụt, kể cả khi cô đến khô (sai).
Điều chế muối tan từ acid và base không tan là thí nghiệm thực hành của bài Muối (Khoa học tự nhiên 8, Chương trình GDPT 2018) và của nhiều chương trình hoá học quốc tế. Mô phỏng đi đủ 6 bước như trong phòng thí nghiệm: đun ấm acid loãng, thêm từng thìa base đến dư, lọc, cô đến điểm kết tinh, để nguội và làm khô tinh thể. Mô hình lấy số mol acid làm chất hạn chế, dùng độ tan tra cứu của CuSO₄, CuCl₂, ZnSO₄, ZnCl₂ theo nhiệt độ và tính cả nước kết tinh (M của CuSO₄·5H₂O = 249,7 g/mol).
Chọn acid (H₂SO₄ hoặc HCl), base (CuO, CuCO₃ hoặc ZnO), thể tích và nồng độ acid, cách cô và cách làm nguội. Bấm lần lượt các nút bước hoặc Tự chạy: dung dịch chuyển xanh với muối đồng, CuCO₃ sủi bọt CO₂, base dư lắng ở đáy cốc, đũa thuỷ tinh lạnh báo điểm kết tinh. Đồ thị độ tan vẽ đường đi của dung dịch khi cô và khi nguội; khung tính toán ghi từng bước số mol acid, khối lượng lí thuyết, khối lượng tinh thể cân được, hiệu suất và các phần hao hụt. Chế độ cô đến khô (sai) cho bột muối khan và hiệu suất thấp hơn.
Câu hỏi gợi ý:
– Vì sao phải thêm base đến dư rồi mới lọc?
– Vì sao cô đến khô lại cho khối lượng sản phẩm thấp hơn khối lượng tinh thể CuSO₄·5H₂O lí thuyết?
– Để nguội chậm và làm lạnh nhanh trong nước đá cho tinh thể khác nhau thế nào, vì sao?