Tưới tiêu và nước ngầm – hiệu quả tưới, mực nước ngầm, úng và mặn hoá

Tưới tiêu và nước ngầm – hiệu quả tưới, mực nước ngầm, úng và mặn hoá

Màn Ruộng tưới là lát cắt qua một cánh đồng khô hạn: chọn cách tưới (tưới tràn, tưới rãnh, tưới phun mưa, tưới nhỏ giọt), nguồn nước (kênh dẫn từ sông hay giếng khoan), cây trồng, lượng mưa, độ mặn của nước tưới, tỉ lệ diện tích được tưới và có hay không hệ thống tiêu nước ngầm. Qua 25 vụ, mô phỏng tính lượng nước tưới, hiệu quả tưới, nước thấm sâu, mực nước ngầm, độ mặn vùng rễ và năng suất: nước thấm từ kênh và ruộng làm mực nước ngầm dâng gây úng và mặn hoá, còn bơm nhiều hơn lượng bổ cập làm mực nước ngầm hạ. Màn Tầng chứa nước cho thấy độ rỗng và độ thấm của cuội sỏi, cát, bột và sét, tầng chứa nước không áp và có áp, giếng phun khi mặt áp lực cao hơn mặt đất, phễu hạ thấp quanh giếng bơm làm cạn giếng làng và nước mặn xâm nhập gần bờ biển.

Bài Thuỷ quyển (Địa lí 10) nói về nước ngầm và vai trò của nước với sản xuất, còn vấn đề sử dụng hợp lí tài nguyên nước hỏi vì sao tưới quá nhiều lại làm hỏng đất. Mô phỏng có hai màn. Màn Ruộng tưới tính cân bằng nước từng vụ: lượng nước cần tưới bằng nhu cầu nước của cây trừ mưa có ích, chia cho hiệu quả tưới (tưới tràn khoảng 45%, tưới rãnh 60%, phun mưa 75%, nhỏ giọt 90%); phần hao hụt bốc hơi hoặc thấm sâu xuống nước ngầm. Mực nước ngầm dâng khi nước thấm nhiều hơn nước thoát đi, hạ khi bơm nhiều hơn nước bổ cập; khi chỉ còn cách mặt đất dưới 2 m, nước ngầm theo mao dẫn đưa muối lên vùng rễ, năng suất giảm theo ngưỡng chịu mặn của cây (Maas–Hoffman). Màn Tầng chứa nước dùng công thức Theis để vẽ phễu hạ thấp quanh giếng bơm và hệ thức Ghyben–Herzberg cho ranh giới nước ngọt – nước mặn gần bờ biển. Học sinh chọn cách tưới, nguồn nước, cây trồng, lượng mưa, độ mặn nước tưới, tỉ lệ diện tích được tưới và bật hệ thống tiêu, bấm Chạy để theo dõi 25 vụ; đồ thị so lần này với lần trước, bảng so sánh bốn cách tưới và bảng ghi kết quả từng lần chạy. Ở màn Tầng chứa nước, chọn vật liệu tầng chứa nước, lưu lượng bơm, khoảng cách giếng tới bờ biển, độ cao vùng nhận nước, bấm Bơm nước để chạy một năm thử bơm: bảng ghi độ hạ thấp ở giếng bơm và giếng làng, mực nước ở giếng quan trắc; chạm vào lát cắt để đọc độ rỗng và độ thấm của từng lớp. Ba nhiệm vụ tự kiểm tra: tưới bằng nước kênh mà không úng mặn, bơm nước ngầm bền vững, tính độ sâu ranh giới nước mặn theo Ghyben–Herzberg. Câu hỏi gợi ý: – Vì sao tưới tràn bằng nước kênh lâu năm lại làm đất bị úng và nhiễm mặn? – Tưới nhỏ giọt tiết kiệm nước nhưng vì sao mực nước ngầm vẫn có thể hạ khi diện tích tưới quá lớn? – Vì sao giếng bơm gần bờ biển dễ bị nhiễm mặn hơn giếng xa bờ?

Tham số điều chỉnh được

  • Độ mặn của nước tưới (EC) (0,2–4 dS/m)
  • Tỉ lệ diện tích được tưới (10–80 %)
  • Cây trồng
  • Độ cao vùng nhận nước so với đồng bằng (0–40 m)
  • Lưu lượng bơm (0–5000 m³/ngày)
  • Lượng mưa năm (0–800 mm/năm)
  • Khoảng cách giếng bơm tới bờ biển (200–1200 m)
  • Hệ thống tiêu nước ngầm
  • Cách tưới
  • Màn hình
  • Nguồn nước tưới
  • Vật liệu tầng chứa nước
4
Mở toàn màn hình
Mở toàn màn hình, chấm sao và lưu về tài khoản cần đăng nhập; tài khoản miễn phí.
Luôn dùng bản mới nhất; khi bạn sửa lần đầu mới tạo bản riêng, bản gốc không đổi.