Một buổi thực địa trọn vẹn trên máy: chọn giả thuyết, cách lấy mẫu (hệ thống, ngẫu nhiên, phân tầng) và số điểm đo, rồi tự đo tại từng điểm. Ở sông: đo chiều rộng bằng thước dây, độ sâu bằng thước mét ở 6 điểm, vận tốc bằng phao thả qua 10 m hoặc lưu tốc kế, cỡ và độ tròn của 10 hòn cuội. Ở bãi biển: dựng cọc tiêu, đo khoảng cách và góc dốc bằng máy đo độ dốc để vẽ mặt cắt bãi, lấy mẫu trầm tích dọc hướng vận chuyển ven bờ. Số đo có sai số như thật; bảng số liệu, biểu đồ, hệ số tương quan hạng Spearman, kết luận và phần đánh giá độ tin cậy được lập tự động.
Mô phỏng dùng để rèn kĩ năng điều tra thực địa trong môn Địa lí: đặt giả thuyết, chọn cách lấy mẫu, đo, ghi chép, xử lí số liệu, kết luận và đánh giá. Hai bài khảo sát: một đoạn sông dài 12 km (kiểm chứng mô hình Bradshaw) và một bãi biển dài 1 km có dòng vận chuyển ven bờ. Số đo được tạo từ mô hình có biến động tự nhiên (chuỗi ghềnh – vực, phụ lưu, phân loại trầm tích) cộng sai số của dụng cụ, nên mỗi nhóm học sinh có bộ số liệu riêng, giống như đi thực địa thật.
Ở sông, học sinh đo chiều rộng bằng thước dây, độ sâu bằng thước mét ở 6 điểm, thời gian phao trôi 10 m (hoặc đọc lưu tốc kế), cỡ và độ tròn Powers của 10 hòn cuội, rồi tính tiết diện, vận tốc và lưu lượng. Ở bãi biển, học sinh dựng cọc tiêu ở các chỗ đổi độ dốc, đo khoảng cách và góc bằng máy đo độ dốc, vẽ mặt cắt bãi và lấy mẫu trầm tích. Bảng số liệu, mặt cắt vẽ cùng tỉ lệ, biểu đồ có đường xu hướng và bảng tính hệ số tương quan hạng Spearman được lập ngay; phần đánh giá chỉ ra sai số của phao, của cách lấy mẫu và các số đo bất thường.
Câu hỏi gợi ý:
– Vì sao vận tốc đo bằng phao thường lớn hơn vận tốc đo bằng lưu tốc kế?
– Lấy mẫu hệ thống, ngẫu nhiên và phân tầng khác nhau thế nào về độ đại diện?
– Cần bao nhiêu điểm đo để hệ số Spearman đủ ý nghĩa ở mức 0,05?