Lát cắt qua vùng đài nguyên cho thấy tầng hoạt động, tầng băng giá vĩnh cửu, nêm băng và talik vào cuối mùa hạ. Làm khí hậu ấm lên, đổi độ dày tuyết và loại đất, đặt nhà (trên mặt đất, trên cọc hoặc trên nền sỏi có ống nhiệt), đường ống (chôn ngầm hoặc đặt cao), đường, mỏ lộ thiên hay vết bánh xe lên ba khu đất rồi cho thời gian trôi để thấy đất tan, lún, hồ nhiệt karst và hư hại công trình. Màn hình đài nguyên cho thấy thích nghi của thực vật, động vật và chuỗi thức ăn theo mùa; bản đồ thế giới cho thấy các môi trường khắc nghiệt lạnh, núi cao và khô hạn.
Môi trường lạnh ở vùng cực và núi cao có băng giá vĩnh cửu – lớp đất đá đóng băng ít nhất hai năm liền, phía trên là tầng hoạt động tan vào mỗi mùa hạ. Đất chứa nhiều băng nên khi tan thì lún, đọng nước thành hồ nhiệt karst và làm nứt nhà, vỡ đường ống. Mô hình tính độ sâu tan theo phương trình Stefan và nhiệt độ mặt trên tầng băng giá vĩnh cửu theo mô hình TTOP, có tính đến tuyết, thực vật và bề mặt công trình.
Học sinh đổi nhiệt độ trung bình năm, mức nóng lên ΔT, độ dày tuyết và loại đất, chọn công trình cho ba khu đất (nhà sưởi ấm trên mặt đất, nhà trên cọc, nhà trên nền sỏi có ống nhiệt, ống dầu chôn ngầm hoặc đặt cao, đường, mỏ lộ thiên, vết bánh xe) rồi bấm Chạy để xem đất tan, lún và hư hại qua từng năm, kèm bảng và biểu đồ. Màn hình Sự sống ở đài nguyên cho thấy thích nghi của cây, con và chuỗi thức ăn vào mùa hạ, mùa đông; bản đồ thế giới cho thấy vùng cực, đài nguyên, băng giá vĩnh cửu, núi cao và hoang mạc.
Câu hỏi gợi ý:
– Vì sao nhà sưởi ấm đặt sát mặt đất làm hỏng băng giá vĩnh cửu, còn nhà trên cọc có khoảng trống thì không?
– Hồ nhiệt karst làm quá trình tan băng nhanh hơn như thế nào?
– Thực vật và động vật đài nguyên thích nghi với mùa đông dài, lạnh bằng những đặc điểm nào?
Tham số điều chỉnh được
Công trình ở khu đất giữa
Công trình ở khu đất bên phải
Công trình ở khu đất bên trái
Mức nóng lên của khí hậu ΔT (0–8 °C)
Độ dày tuyết mùa đông (0,1–1 m)
Loại đất
Màn hình
Nhiệt độ không khí trung bình năm tại nơi khảo sát (-15–0 °C)