Khan hiếm nước ngọt – cung, cầu, chuyển nước và nước ngầm

Khan hiếm nước ngọt – cung, cầu, chuyển nước và nước ngầm

Một vùng giả định có lưu vực phía bắc mưa nhiều, ít dân và lưu vực phía nam khô hạn, có thành phố và đồng ruộng tưới. Bản đồ tô màu nơi thừa, nơi thiếu nước; học sinh đặt lượng mưa, dân số, tốc độ tăng dân số, diện tích tưới và mức thu nhập, rồi xây hồ chứa, công trình chuyển nước, nhà máy khử mặn, khoan thêm giếng hoặc tiết kiệm nước. Trong 30 năm, mô phỏng tính cân bằng nước, tỉ lệ nước bị khai thác, chỉ số Falkenmark, khan hiếm vật lí hay kinh tế, mực nước ngầm hạ thấp, xâm nhập mặn, đất nhiễm mặn, chi phí, năng lượng và tác động tới sông.

Mô hình cung và cầu nước ngọt của một vùng giả định gồm hai lưu vực: phía bắc là vùng núi mưa nhiều, thừa nước; phía nam khô hạn, nơi có thành phố ven biển và đồng bằng trồng trọt cần tưới. Lượng nước tái tạo bằng lượng mưa trừ bốc hơi; nhu cầu gồm sinh hoạt, công nghiệp và nông nghiệp. Mô phỏng tính tỉ lệ nước bị khai thác so với nguồn nước tái tạo (trên 75 % là khan hiếm nước vật lí), chỉ số Falkenmark (m³/người/năm) và khan hiếm nước kinh tế khi có nước nhưng thiếu tiền, thiếu đường ống để đưa nước tới người dân. Mực nước ngầm hạ thấp khi khai thác vượt lượng bổ sung, gây cạn giếng, xâm nhập mặn và tốn năng lượng bơm; tưới tràn ở vùng khô làm đất nhiễm mặn. Kéo thanh trượt lượng mưa, dân số, tốc độ tăng dân số, diện tích tưới; chọn mức thu nhập và xu hướng khí hậu; bấm Chạy để xem 30 năm, hoặc +1 năm hạn hán. Bật các giải pháp: hồ chứa, chuyển nước liên lưu vực, khử mặn nước biển, khoan thêm giếng, tiết kiệm nước, rồi so sánh nước thiếu hụt, mực nước ngầm, dòng chảy ra biển, chi phí, điện năng và CO₂ trong bảng kết quả. Câu hỏi gợi ý: – Vì sao vùng phía nam vẫn thiếu nước dù cả vùng có nhiều nước hơn nhu cầu? – Khoan thêm giếng giải quyết thiếu nước nhanh nhất, nhưng sau 30 năm điều gì xảy ra với mực nước ngầm và các giếng nông? – Với mức thu nhập thấp và lượng mưa 140 %, vùng thuộc loại khan hiếm nước nào? Giải pháp nào phù hợp?

Tham số điều chỉnh được

  • Dân số ban đầu của lưu vực phía nam (1–8 triệu người)
  • Lượng mưa so với trung bình nhiều năm (60–140 %)
  • Diện tích đất được tưới (0–150 nghìn ha)
  • Xây đập và hồ chứa
  • Tốc độ tăng dân số (0–4 %/năm)
  • Mức thu nhập của vùng
  • Tiết kiệm nước (tưới nhỏ giọt, chống rò rỉ, đồng hồ nước)
  • Xu hướng khí hậu
  • Nhà máy khử mặn nước biển
  • Khoan thêm giếng khai thác nước ngầm
  • Chuyển nước từ lưu vực phía bắc
3
Mở toàn màn hình
Mở toàn màn hình, chấm sao và lưu về tài khoản cần đăng nhập; tài khoản miễn phí.
Luôn dùng bản mới nhất; khi bạn sửa lần đầu mới tạo bản riêng, bản gốc không đổi.