Thí nghiệm ảo với đèn, giá đặt mẫu và máy đo ánh sáng (lux kế). Màn Vật liệu: chiếu chùm sáng vào kính trong, kính mờ, giấy can, bìa trắng, bìa đen, giấy bóng, gương và kính lọc màu, xoay máy đo quanh mẫu để đo ánh sáng truyền qua và phản xạ, phân biệt phản xạ gương với phản xạ khuếch tán. Màn Khoảng cách: dịch máy đo xa dần một bóng đèn nhỏ để kiểm tra độ rọi tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách, có trừ phông nền, bảng số đo và đồ thị tuyến tính hoá.
Phục vụ chủ đề Sóng của Vật lí 11 (Chương trình GDPT 2018), phần sóng điện từ và cường độ sóng, đồng thời ôn lại kiến thức về ánh sáng của Khoa học tự nhiên 7. Khi ánh sáng gặp một vật, một phần truyền qua, một phần phản xạ, phần còn lại bị hấp thụ; vật trong suốt cho ánh sáng đi thẳng qua, vật mờ làm ánh sáng tán xạ, vật chắn sáng không cho ánh sáng truyền qua. Ánh sáng từ một bóng đèn nhỏ toả đều ra mọi phía nên độ rọi giảm tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách: E = I/r².
Màn Vật liệu: chọn mẫu (kính trong, kính mờ, giấy can, bìa trắng, bìa đen, giấy bóng, gương, kính lọc màu), đặt máy đo phía sau hoặc phía trước mẫu, xoay góc φ quanh mẫu và bấm Ghi số đo; đồ thị số đo theo góc cho thấy phản xạ gương chỉ mạnh ở một hướng còn phản xạ khuếch tán toả ra mọi hướng. Ghi số đo với giá trống làm chuẩn I₀ và với đèn tắt làm phông nền B để có cột phần trăm. Màn Khoảng cách: dịch máy đo dọc thước, ghi độ rọi ở nhiều khoảng cách, trừ phông nền và vẽ đồ thị E − B theo 1/r² hoặc lg(E − B) theo lg r (hệ số góc −2).
Câu hỏi gợi ý:
– Vì sao gương cho số đo lớn chỉ ở một góc, còn bìa trắng cho số đo nhỏ ở mọi góc?
– Chồng kính lọc đỏ và kính lọc lục thì số đo thay đổi thế nào, vì sao?
– Tăng khoảng cách tới đèn lên gấp đôi thì số đo giảm bao nhiêu lần, vì sao?