Đo độ nhớt bằng bi rơi – định luật Stokes và vận tốc giới hạn

Đo độ nhớt bằng bi rơi – định luật Stokes và vận tốc giới hạn

Thí nghiệm ảo đo độ nhớt: thả bi thép có bán kính khác nhau vào glycerol, dầu thầu dầu hoặc nước, đo thời gian bi rơi giữa hai vạch và vẽ đồ thị vận tốc giới hạn v theo r². Bi tăng tốc tới khi trọng lực bằng lực đẩy Ác-si-mét cộng lực cản Stokes 6πηrv, nên v = 2r²(ρ − σ)g/(9η) và hệ số góc của đường thẳng cho η. Làm nóng chất lỏng để thấy η giảm, xem số Reynolds để biết khi nào định luật Stokes không còn đúng.

Lực cản của chất lỏng trong chủ đề Động lực học (Vật lí 10) phụ thuộc độ nhớt η của chất lỏng. Với dòng chảy chậm, viên bi nhỏ chịu lực cản theo định luật Stokes F = 6πηrv; bi tăng tốc tới khi trọng lực bằng lực đẩy Ác-si-mét cộng lực cản, rồi rơi đều với vận tốc giới hạn v = 2r²(ρ − σ)g/(9η). Số liệu của glycerol, dầu thầu dầu và nước lấy theo bảng tra ở 10–40 °C. Chọn chất lỏng, nhiệt độ, bán kính bi và khoảng cách hai vạch rồi bấm Thả bi: đồng hồ tự đo thời gian bi rơi từ vạch A tới vạch B, mỗi lần đo thêm một dòng vào bảng và một điểm vào đồ thị v theo r². Đồ thị là đường thẳng qua gốc toạ độ; từ hệ số góc k tính η = 2(ρ − σ)g/(9k) và nhập vào ô nhiệm vụ để kiểm tra. Số Reynolds cho biết khi nào định luật Stokes không còn đúng, ví dụ bi lớn rơi trong nước. Câu hỏi gợi ý: – Vì sao vạch A phải đặt cách mặt chất lỏng một đoạn? – Vì sao đồ thị vận tốc giới hạn theo r² là đường thẳng qua gốc toạ độ? – Khi tăng nhiệt độ, hệ số góc của đồ thị và độ nhớt thay đổi thế nào?

Tham số điều chỉnh được

  • Nhiệt độ (10–40 °C)
  • Bán kính bi (0,5–2 mm)
  • Khoảng cách hai vạch (10–30 cm)
  • Chất lỏng
1
Mở toàn màn hình
Mở toàn màn hình, chấm sao và lưu về tài khoản cần đăng nhập; tài khoản miễn phí.
Luôn dùng bản mới nhất; khi bạn sửa lần đầu mới tạo bản riêng, bản gốc không đổi.