Cân bằng nội môi: đường huyết và thân nhiệt
0
Chạy mô phỏng
Cần đăng nhập để mở; tài khoản miễn phí.
Luôn dùng bản mới nhất; khi bạn sửa lần đầu mới tạo bản riêng, bản gốc không đổi.

Cân bằng nội môi: đường huyết và thân nhiệt

Ăn một bữa và theo dõi đường huyết theo phút. Ở người bình thường, glucose từ ruột vào máu làm đường huyết tăng, tế bào beta của tuỵ tiết insulin đưa glucose vào tế bào và tích thành glycogen ở gan nên chỉ số trở về vùng an toàn 3,9 đến 6,4 mmol/L sau khoảng hai giờ; khi đói, tế bào alpha tiết glucagon phân giải glycogen để nâng đường huyết lên. Chọn trạng thái đái tháo đường type 1 hoặc type 2 để thấy đường huyết vọt lên trên 11 mmol/L và không tự hạ, rồi bấm tiêm insulin để kéo xuống. Chuyển sang thân nhiệt: kéo nhiệt độ môi trường và xem cơ thể giãn mạch, toát mồ hôi hoặc co mạch, run cơ để giữ thân nhiệt quanh 37 °C.

Dùng cho bài Cân bằng nội môi (Sinh học 11, Chương trình GDPT 2018), phần điều hoà đường huyết và thân nhiệt. Học sinh cần giải thích được cơ chế liên hệ ngược giữ môi trường trong ổn định. Chọn lượng carbohydrate của bữa ăn, từ nhịn ăn tới bữa lớn 100 g, rồi theo dõi đồ thị glucose máu theo phút. Đổi trạng thái sang đái tháo đường type 1 (tuỵ không tiết insulin) hoặc type 2 (tế bào kém đáp ứng) để thấy đường huyết vượt 11 mmol/L và không tự hạ; bật tiêm insulin để thấy tác dụng điều trị. Ở hệ thân nhiệt, thay đổi nhiệt độ môi trường để quan sát giãn mạch, tiết mồ hôi hay co mạch, run cơ. Kết luận: insulin và glucagon có tác dụng đối lập nhưng cùng giữ đường huyết ổn định. Câu hỏi gợi ý: – Vì sao sau bữa lớn, đường huyết người bình thường vẫn trở về 3,9–6,4 mmol/L? – Type 1 và type 2 hỏng ở khâu nào của cơ chế điều hoà? – Khi trời lạnh, cơ thể giảm mất nhiệt bằng cách nào?

Tham số điều chỉnh được

  • Bữa ăn (lượng carbohydrate)
  • Tốc độ mô phỏng (5–60 phút/giây)
  • Hệ điều hoà
  • Trạng thái sức khoẻ
  • Tiêm insulin khi đường huyết vượt 10 mmol/L