Các vùng biển Việt Nam theo Công ước Luật biển 1982
0
Chạy mô phỏng
Cần đăng nhập để mở; tài khoản miễn phí.
Luôn dùng bản mới nhất; khi bạn sửa lần đầu mới tạo bản riêng, bản gốc không đổi.

Các vùng biển Việt Nam theo Công ước Luật biển 1982

Lát cắt từ bờ ra khơi cho thấy năm bộ phận của vùng biển nước ta tính từ đường cơ sở: nội thuỷ (phía trong đường cơ sở), lãnh hải rộng 12 hải lí, vùng tiếp giáp lãnh hải tới 24 hải lí, vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lí và thềm lục địa. Kéo con tàu ra xa hoặc kéo thanh khoảng cách để biết tàu đang ở vùng nào, khoảng cách quy ra ki-lô-mét và quyền của Việt Nam ở vùng đó. Bản đồ bên cạnh vẽ đường cơ sở, ranh giới các vùng biển cùng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Dành cho Lịch sử và Địa lí 8, chủ đề Biển đảo Việt Nam, bài Phạm vi Biển Đông và các vùng biển của Việt Nam ở Biển Đông. Mục tiêu là học sinh xác định đúng từng bộ phận vùng biển theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982. Học sinh thay đổi khoảng cách của con tàu tính từ đường cơ sở (0–250 hải lí), chọn vùng biển cần tô sáng và chuyển đơn vị giữa hải lí với ki-lô-mét. Khi tàu vượt mốc 12, 24 rồi 200 hải lí, nhãn vùng và quyền tương ứng đổi theo. Bản đồ có thể hiện hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Học sinh rút ra: mọi khoảng cách đều tính từ đường cơ sở chứ không phải từ bờ biển, và càng ra xa thì quyền của quốc gia ven biển càng hạn chế. Câu hỏi gợi ý: – Vì sao nội thuỷ không có độ rộng cố định như lãnh hải? – Tàu cách đường cơ sở 20 hải lí đang ở vùng nào? – Quyền của Việt Nam ở lãnh hải khác gì ở vùng đặc quyền kinh tế?

Tham số điều chỉnh được

  • Tô sáng một vùng biển
  • Đơn vị hiển thị khoảng cách
  • Hiện quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên bản đồ
  • Khoảng cách của tàu tính từ đường cơ sở (0–250 hải lí)