Địa hình và khoáng sản Việt Nam theo lát cắt tây – đông
Bản đồ Việt Nam tự vẽ với bốn tuyến cắt ngang ở khoảng 22°B, 16°B, 12°B và 10°B. Chọn một tuyến để xem lát cắt tây – đông: núi cao ở phía tây và bắc, đồi chuyển tiếp, đồng bằng ở phía đông rồi tới thềm lục địa dưới Biển Đông; kéo con trỏ dọc lát cắt để đọc độ cao từng nơi và tên dạng địa hình. Bật lớp khoáng sản và lọc theo nhóm để thấy vị trí than Quảng Ninh, dầu khí thềm lục địa phía nam, bô-xít Tây Nguyên, a-pa-tit Lào Cai, sắt Hà Tĩnh và các mỏ khác.
Bài Đặc điểm địa hình và tài nguyên khoáng sản Việt Nam (Lịch sử và Địa lí 8) cần học sinh chứng minh đồi núi chiếm phần lớn lãnh thổ, địa hình thấp dần từ tây bắc xuống đông nam, và xác định các mỏ khoáng sản chính.
Học sinh chọn một trong bốn tuyến cắt ngang ở khoảng 22°B, 16°B, 12°B và 10°B, rồi kéo con trỏ dọc lát cắt để đọc độ cao và tên dạng địa hình: núi, đồi, cao nguyên, đồng bằng, thềm lục địa. Hệ số phóng đại chiều cao (1–3 lần) giúp nhìn rõ các vùng thấp. Bật lớp khoáng sản và lọc theo nhóm năng lượng, kim loại, phi kim loại để thấy than Quảng Ninh, dầu khí thềm lục địa phía nam, bô-xít Tây Nguyên, a-pa-tit Lào Cai. So sánh tuyến 22°B với 10°B cho thấy sự khác biệt giữa miền núi phía bắc và đồng bằng phía nam.
Câu hỏi gợi ý:
– Trên tuyến 22°B, địa hình thay đổi thế nào từ tây sang đông?
– Vì sao dầu khí nước ta tập trung ở thềm lục địa?
– Kể tên ba mỏ khoáng sản và vùng phân bố.
Tham số điều chỉnh được
- Tuyến cắt ngang
- Hệ số phóng đại chiều cao lát cắt (1–3 lần)
- Hiện các mỏ khoáng sản
- Nhóm khoáng sản hiển thị