Tháp dân số – ba kiểu tháp và dự báo theo tỉ suất sinh, tử
Tháp dân số theo nhóm tuổi 5 năm (nam bên trái, nữ bên phải) với ba kiểu: mở rộng (đáy rộng, dân số trẻ, tăng nhanh), ổn định (thân đều, tăng chậm) và thu hẹp (đáy hẹp, dân số già, giảm). Kéo thanh tỉ suất sinh, tỉ suất tử rồi bấm Chạy: dân số được dự báo từng năm theo phương pháp thành phần (sinh vào nhóm 0–4, tử theo từng tuổi, lên nhóm tuổi trên), tháp đổi dạng dần; hiện tổng dân số, tỉ suất gia tăng tự nhiên, tỉ lệ ba nhóm tuổi và kiểu tháp hiện tại.
Công cụ phục vụ chủ đề Địa lí dân cư lớp 10, phần gia tăng dân số và cơ cấu dân số theo tuổi, giới tính. Mục tiêu là học sinh đọc được tháp dân số và hiểu tỉ suất sinh, tử làm tháp đổi dạng như thế nào.
Chọn kiểu tháp ban đầu (mở rộng, ổn định, thu hẹp), đặt tỉ suất sinh thô 5–50‰, tỉ suất tử thô 3–30‰ và số năm dự báo. Khi chạy, dân số tính từng năm: trẻ sinh ra vào nhóm 0–4 tuổi, các nhóm dịch dần lên trên. Tổng dân số, gia tăng tự nhiên và kiểu tháp cập nhật liên tục. Thử giảm mạnh tỉ suất sinh ở tháp mở rộng: đáy tháp co lại, sau vài chục năm dân số già đi. Học sinh thấy cơ cấu tuổi thay đổi chậm, phản ánh tác động của sinh, tử trong quá khứ.
Câu hỏi gợi ý:
– Tỉ suất gia tăng tự nhiên được tính như thế nào?
– Nếu tỉ suất sinh bằng tỉ suất tử, tháp sẽ có xu hướng ra sao?
– Dân số già gây ra những vấn đề gì?
Tham số điều chỉnh được
- Kiểu tháp ban đầu
- Số năm dự báo (5–100 năm)
- Tốc độ mô phỏng (0,5–10 năm/giây)
- Tỉ suất tử thô (3–30 ‰)
- Tỉ suất sinh thô (5–50 ‰)
- Tô màu ba nhóm tuổi (0–14, 15–64, 65+)