Dân cư Việt Nam: tháp dân số, mật độ và đô thị hoá
2
Chạy mô phỏng
Cần đăng nhập để mở; tài khoản miễn phí.
Luôn dùng bản mới nhất; khi bạn sửa lần đầu mới tạo bản riêng, bản gốc không đổi.

Dân cư Việt Nam: tháp dân số, mật độ và đô thị hoá

Kéo thanh năm hoặc bấm Chạy để xem tháp dân số Việt Nam biến đổi từ năm 1999 đến dự báo năm 2059: đáy tháp thu hẹp lại vì tỉ lệ sinh giảm, thân tháp phình ra (cơ cấu dân số vàng) rồi đỉnh tháp mở rộng — nước ta đang <b>già hoá dân số</b>. Bên phải chọn chỉ tiêu để so sánh: mật độ dân số rất chênh lệch giữa sáu vùng (Đồng bằng sông Hồng đông nhất, Tây Nguyên thưa nhất), tỉ lệ dân thành thị tăng đều qua các năm, và tỉ lệ ba nhóm tuổi thay đổi theo thời gian.

Tương ứng bài Dân số, cơ cấu dân số, phân bố dân cư và đô thị hoá ở Việt Nam (Lịch sử và Địa lí 9). Mục tiêu là đọc tháp dân số và nhận xét phân bố dân cư, đô thị hoá. Kéo năm từ 1999 đến mốc dự báo 2059 hoặc cho chạy để thấy tháp dân số đổi hình dạng: đáy hẹp lại, thân phình ra rồi đỉnh mở rộng. Ô bên phải có ba chỉ tiêu để chọn: mật độ dân số sáu vùng kinh tế – xã hội, tỉ lệ dân thành thị qua các năm và tỉ lệ ba nhóm tuổi. Tô sáng một vùng để so sánh. Học sinh rút ra rằng nước ta đang trong giai đoạn cơ cấu dân số vàng nhưng già hoá nhanh, dân cư tập trung ở đồng bằng và đô thị hoá tăng dần. Câu hỏi gợi ý: – Hình dạng tháp dân số thay đổi thế nào từ 1999 đến 2059, vì sao? – Cơ cấu dân số vàng mang lại cơ hội và thách thức gì? – Giải thích sự chênh lệch mật độ dân số giữa các vùng.

Tham số điều chỉnh được

  • Năm (1999–2059 năm)
  • Vùng được tô sáng
  • Tốc độ chạy các năm (1–20 năm/giây)
  • Chỉ tiêu ở ô bên phải